Tài sản chung của vợ chồng

30/05/2016  

Cho dù kết hôn với người nước ngoài hay với một người trong nước, là bản thân tự nguyện cùng người đó đi suốt chặng đường còn lại bằng cả niềm tin và trách nhiệm. Và cũng từ đây, tài sản chung của vợ chồng sẽ được thiết lập, là của cả hai chứ chẳng phải riêng mỗi người như lúc trước. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta đánh đồng giữa tài sản riêng của vợ và chồng để gộp chung về một mối, bởi điều này sẽ dễ tạo ra tranh chấp khi có sự cố ngoài ý muốn như ly hôn xảy ra. Chính vì thế, pháp luật nước ta đã ban hành những quy định cơ bản về cách xác định cũng như phân chia tài sản chung nhằm tối ưu hóa quyền lợi mà mỗi người được hưởng trong mối quan hệ vợ chồng để không ai phải chịu thiệt thòi.

Tài sản chung của vợ chồng là gì?

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
  • Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
  • Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Cách xác định tài sản chung của vợ chồng

Tại điểm b mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể:

“Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng”.

Hiện nay, đã có nhiều đổi mới về việc tài sản chung của vợ chồng mà trong chuyên mục nay, chúng tôi không thể giải đáp hết cho quý bạn đọc. Vì thế, khi có nhu cầu tìm hiểu kỹ hơn, quý thân chủ có thể tìm đến văn phòng luật sư tư vấn ly hôn uy tín để nhận được sự hỗ trợ đây đủ nhất.