Trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc và những điều cần biết

24/06/2016  

Bộ Luật hình sự Việt Nam có quy định rằng” đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp”.

Mức hình phạt đối với tội đánh bạc trái phép

Theo đó, trong những quy định mới được sửa đổi, mức phạt về tội đánh bạc trái phép đã được nâng lên. Cụ thể:

- Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc và những điều cần biết

Phạt tiền từ 5 triệu đồng tới 50 triệu đồng đối với tội đánh bạc trái phép - Ảnh: Internet

- Trong đó, phạt tù từ 2 năm đến 3 năm được áp dụng cho các đối tượng sau:

 + Có tính chất chuyên nghiệp.

 +  Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn.

 + Tái phạm nguy hiểm.

- Đặc biệt, tại khoản 2 điều luật bổ sung còn quy định “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số để phạm tội” là tình tiết tăng nặng với hình phạt tối đa là 7 năm tù.

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP cũng quy định cụ thể trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc căn cứ theo số lần vi phạm như sau:

- Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

- Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó.

- Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lêntổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

- Trường hợp đánh bạc từ 5 lần trở lêntổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

Mọi thắc mắc về khung hình phạt mới nhất về tội đánh bạc, vui lòng liên hệ Văn phòng luật sư uy tín The Light qua Hotline: 0969961188 - Luật sư Minh;  0932831188 - Luật sư Quang để được đội ngũ luật sự hình sự giỏi của chúng tôi tư vấn những thông tin mới nhất.