Quy định về ly hôn khi vợ đang mang thai

31/10/2016  

Khi người vợ đang mang thai, liệu hai người có được giải quyết ly hôn hay không? Trong trường hợp người vợ bị thiệt thòi mối quan hệ vợ chồng dẫn đến việc quyết định đơn phương ly hôn thì tòa án sẽ xử lý như thế nào? Cùng tìm hiểu sâu hơn về quy định xử lý vụ án ly hôn khi vợ đang mang thai:

Căn cứ pháp lý xin ly hôn:

Quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 về Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn cụ thể như sau:

  1.  Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn
  2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Như vậy, chồng của bạn không được quyền yêu cầu ly hôn khi bạn đang mang thai. Tuy nhiên, theo quy định của điều luật trên, người vợ vẫn có quyền xin ly hôn trong khi đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (kể cả trường hợp hai người thuận tình ly hôn). Cho nên nếu việc tiếp tục chung sống với chồng bạn mà làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn và/hoặc bào thai trong bụng bạn, thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn và tòa án sẽ thụ lý và giải quyết.

Quy trình ly hôn

[Hình 1] Người vợ vẫn có quyền xin ly hôn trong lúc mang thai.

Căn cứ để Tòa chấp nhận yêu cầu ly hôn:

Quy định tại Điều 89 Luật HNGĐ 2000 về Căn cứ cho ly hôn:

  1.  Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu  xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định  cho ly hôn.
  2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Về tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được được hướng dẫn cụ thể tại mục số 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP:

  1. a)  Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
  • Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
  • Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
  • Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
  1. b)  Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này.

Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

  1. c)  Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

quy trình ly hôn

[Hình 2] Người vợ mang thai có quyền đơn phương ly hôn khi chịu thiệt thòi đến mức trầm trọng trong hôn nhân.

Theo như trường hợp xảy ra trong vụ án ly hôn mà người vợ đang có thai, lại bị chịu thiệt thòi do người chồng gây nên, như vậy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững đã không đạt. Dựa trên những mâu thuẫn cụ thể do người vợ cung cấp mà tòa án sẽ phán quyết có được đơn phương ly hôn hay không. Bạn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn nên cần cung cấp các chứng cứ thỏa mãn các điều kiện như trên để Tòa có thể chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bạn.