Cùng đặt lên bàn cân sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Singapore – Phần 1

27/01/2016  

Singapore không chỉ là một quốc gia có nền kinh tế và kỹ thuật phát triển vượt bậc mà hệ thống pháp luật cũng tiên tiến không kém,đáng để cho nhiều nước khác học hỏi, trong đó có Việt Nam. Cùng nằm trong khu vực ASEAN, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, địa lý, chính trị, tôn giáo,… nên việc tìm hiểu và học tập các điểm mới, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội tương lai trong hệ thống pháp luật Singapore là điều cần thiết. Các luật sư giỏi nước ta đã hệ thống lại một vài điểm để so sánh luật pháp Việt Nam với nước bạn, nhằm có cái nhìn tổng quan hơn để điều chỉnh khi cần thiết.

Luật hôn nhân và gia đình

Pháp luật Singapore

- Độ tuổi có thể đăng ký kết hôn dành cho người Hồi giáo là 16 tuổi, với các cộng đồng người và tôn giáo khác là 18 tuổi.

- Về vấn đề hết hôn và ly hôn, các cộng đồng không phải là Hồi giáo được điều chỉnh bởi Hiến chương về phụ nữ 1961, dành các quy định về quyền bình đẳng cho phụ nữ, quy định chế độ đăng ký kết hôn bắt buộc và cấm đàn ông lấy nhiều vợ.

Có thể tổ chức kết hôn theo phong tục phù hợp với văn hóa của mình nhưng vẫn phải đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật.

Đối với cộng đồng người Hồi giáo, vấn đề kết hôn – gia đình hoàn toàn theo Luật Hồi giáo. theo đó, đàn ông được phép lấy nhiều vợ và có thể đơn phương tuyên bố ly hôn.

- Cơ bản, quy định về ly hôn ở Singapore theo hình mẫu của pháp luật Anh chỉ khác ở chỗ để nộp đơn xin ly hôn cần có ít nhất 7 năm sống riêng (ly thân).

Pháp luật Việt Nam

Độ tuổi kết hôn sẽ là từ đủ 18 tuổi trở lên đối với nữ và từ đủ 20 tuổi trở lên đối với nam.

- Pháp luật Việt Nam quy định, chế độ kết hôn phải tuân thủ theo nguyên tắc một vợ, một chồng, tự nguyện, bình đẳng và không thừa nhận hôn nhân đồng tính. Về nghi thức kết hôn, pháp luật Việt Nam quy định tương tự như Singapore.

- Việt Nam không quy định về vấn đề “ly thân”.

Luật đất đai

Luật Đất đai của Singapore

Được dựa trên pháp luật Anh và pháp luật Australia.

Singapore chia bất động sản thành nhiều loại, ví dụ như bất động sản ở, bất động sản công nghiệp, thương mại và bất động sản là khách sạn…

- “Bất động sản ở” được định nghĩa là:

a) Bất kỳ khu đất trống nào mà trên nó không có tòa nhà hoặc công trình xây dựng khác; hoặc có nhưng được xây dựng hoặc sử dụng trái với quy định pháp luật;

b) Bất kỳ ngôi nhà, tòa nhà, các tài sản khác hoặc một phần đó được cấp phép để sử dụng phù hợp với Luật quy hoạch hoặc bất kỳ luật nào khác để làm nhà ở hoặc sử dụng hợp pháp;

c) Bất kỳ khu đất nào sử dụng cho mục đích để ở theo quy hoạch tổng thể;

d) Các khu đất hoặc tòa nhà khác, theo quy hoạch tổng thể, được Bộ trưởng tư pháp thông báo được sử dụng cho mục đích để ở.

- Chủ thể nước ngoài muốn mua bất động sản ở để phục vụ cho nhu cầu cư trú của cá nhân đó hoặc gia đình cá nhân đó (đối với Công ty thì làm nơi cư trú cho người quản lý, điều hành, thành viên hợp danh, nhân viên hoặc các cá nhân khác và gia đình của những người này) thì phải có xin “Giấy chấp thuận” trước của Bộ trưởng tư pháp. Bộ trưởng tư pháp xem xem cấp Giấy chấp thuận này có thể kèm theo một số điều kiện khác kèm theo ( ví dụ như: không được sử dụng cho mục đích khác nêu trên, không được bán, chuyển nhượng,… trong thời hạn được Bộ trưởng tư pháp quy định).

Tại Việt Nam

“Bất động sản” được định nghĩa là:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

- Kể từ ngày 1/7/2015, theo Luật nhà ở 2014, tổ chức, cá nhân nước ngoài sẽ được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Xem tiếp: Cùng đặt lên bàn cân sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Singapore – Phần 2