Quyền tác giả & những quy định xử phạt vi phạm hành chính

30/05/2016  

Hình thức xử phạt đối với vi phạm về luật sở hữu trí tuệ

Về hình thức phạt tiền (hình phạt chính), tùy tính chất và mức độ của hành vi xâm phạm, mức phạt tiền có thể tới 500 triệu đồng. Một số hành vi vi phạm và mức phạt tiền tương ứng được quy định như sau:

(i) Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm, sao chép bản ghi âm, ghi hình, cuộc biểu diễn; hành vi chiếm đoạt quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị phạt tiền tới 500 triệu đồng; (ii) Hành vi xâm phạm quyền phân phối dưới hình thức bán tác phẩm; hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình có thể bị phạt tiền đến 250 triệu đồng; (iii) Hành vi tàng trữ, chứa chấp hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng; (iv) Hành vi xâm phạm quyền đứng tên, đặt tên tác phẩm có thể bị phạt tiền đến 20 triệu đồng; (v) Hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng; (vi) Hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 70 triệu đồng; (vii) Hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại đã công bố bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng; (viii) Hành vi trích ghép chương trình phát sóng bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Các hình thức phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm nói trên bao gồm (i) Tịch thu hàng hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện và thiết bị được sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan; và (ii) Đình chỉ có thời hạn từ 90 ngày đến 180 ngày hoạt động kinh doanh.

Tùy từng trường hợp, các biện pháp buộc khắc phục hậu quả như buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa quá cảnh, nhập khẩu vi phạm; buộc dỡ bỏ bản gốc, bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã truyền đạt trái phép trên mạng kỹ thuật số; buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng sao chép trái phép dưới hình thức điện tử, v.v.. cũng có thể được áp dụng.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện hoặc ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vi phạm trong trường hợp cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt hành chính nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính. Tuy nhiên, trong trường hợp tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm hành chính mới hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tương ứng được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt. Hơn nữa, thời hiệu xử phạt 2 năm nói trên sẽ không được xem xét trong trường hợp áp dụng các biện pháp buộc khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc Chánh thanh tra, Thanh tra viên chuyên ngành thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh; Nhân viên hải quan, kiểm soát viên thị trường, chiến sĩ công an nhân dân, chiến sĩ bộ đội biên phòng, cảnh sát viên đội nghiệp vụ cảnh sát biển đang thi hành công vụ (Điều 45). NĐ 47 có hiệu lực kể từ ngày 30/06/2009