Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật đầu tư 2014 - một số lợi ích và vướng mắc

23/06/2016  

Những ưu điểm của Luật đầu tư 2014 so với Luật đầu tư 2005

  • Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Theo quy định tại Luật đầu tư 2005, Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dẫn đến sự chồng chéo trong việc quản lý giữa Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, phải tuân thủ đồng thời cả hai luật.  Ví dụ, một doanh nghiệp đã có giấy chứng nhận đầu tư, vậy họ có quyền thay đổi đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh không? Đây là câu hỏi rất khó trả lời, bởi theo cách nhìn của Luật Doanh nghiệp, thì những doanh nghiệp trên chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Nhận thấy những điểm bất cập này, Luật đầu tư 2014 đã tháo gỡ vướng mắc bằng cách quy định Luật đầu tư chỉ quản lý dự án đầu tư. Theo đó, Luật đầu tư 2014 quy định về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trước đây là Giấy chứng nhận đầu tư), còn việc thành lập Doanh nghiệp sẽ do Luật doanh nghiệp điều chỉnh.

  • Rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Theo quy định tại Điều 37 Luật đầu tư 2014, thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 15 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký đầu tư nhận đủ hồ sơ; đối với những dự án đầu tư thuộc diện phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư thì thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư. Đối với trường hợp điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.

Tưởng chừng việc rút ngắn thời gian xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sẽ tạo một bước đệm thuận lợi đối với nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên từ quy định của pháp luật đến thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập cần phải suy ngẫm. Thậm chí trong khi Luật đầu tư 2014 đã có hiệu lực gần 01 tháng nhưng việc vận dụng và áp dụng các quy định của pháp luật vẫn tồn đọng những vướng mắc vì chưa có bất kỳ văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể chi tiết những quy định mang tính đính hướng, chung chung của luật; gây khó khăn, lúng túng cho việc đưa luật đi sâu, sát vào đời sống thực tế.

Những vấn đề bất cập, bất hợp lý

Nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư 2014 được xác định theo tiêu chí quốc tịch: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”(Khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014). Tuy nhiên một số quy định tại Luật đầu tư 2014 thì việc xác định tư cách của nhà đầu tư nước ngoài lại dựa theo vốn, tức là, chỉ cần doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu tư nước ngoài.

Ví dụ: Doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài (X) thành lập một doanh nghiệp mới (Y) tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 23 Luật đầu tư 2014 thì Doanh nghiệp Y cũng vẫn phải áp dụng các điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù xét về mặt quốc tịch pháp nhân thì Doanh nghiệp X và Y là pháp nhân Việt Nam và theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014 thì rõ ràng Doanh nghiệp X và Y không phải là nhà đầu tư nước ngoài. Nếu vốn nước ngoài trong doanh nghiệp X là 52% và doanh nghiệp X nắm 52% vốn điều lệ của doanh nghiệp Y, như vậy, tỷ lệ vốn nước ngoài trong doanh nghiệp Y chỉ là 27,04% (52% x 52%). Quả thực, chỉ với 27,04% vốn nước ngoài mà doanh nghiệp Y vẫn phải tuân theo các điều kiện đầu tư và thủ tục đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài là khó thuyết phục, có gây khó khăn, e ngại cho chính các nhà đầu tư nước ngoài hay không?

Kết luận: Theo hội luật sư Hà Nội, để biết được lợi ích và hiệu quả của Luật đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế của nước ta cần phải có một khoảng thời gian áp dụng và đánh giá.